Điều trị canting mặt phẳng nhai bằng cung lún một phần hàm với neo chặn minivis
Bệnh nhân nữ trưởng thành, đã niềng khoảng 2 năm ở cơ sở cũ, chuyển công tác đến TP.HCM và muốn điều trị tiếp vì cười bị nghiêng. Khám thấy canting mặt phẳng nhai ở bình diện trán, biểu hiện nụ cười nghiêng, mức lệch xương không đủ chỉ định phẫu thuật. Kế hoạch: đặt TPA hàm trên, một minivis ở phần hàm trồi, dùng cung lún đoạn để lún nhóm răng sau bên đó với neo chặn xương. Kết quả: mặt phẳng nhai cân lại, nụ cười cân. Cơ học áp dụng theo hệ rhythmic wire (Kang và cộng sự) [1].

Báo cáo ca lâm sàng
Ths.Bs. Đỗ Ngọc Anh – Ths.Bs. Lê Hương – Bs CKI Lương Đoàn Minh Thư
1. Đặt vấn đề
Canting mặt phẳng nhai ở bình diện trán có thể do lệch xương hàm hoặc do chênh lệch vị trí đứng của răng sau hai bên [1]. Trước khi có neo chặn xương, việc sửa canting phần lớn phải nhờ phẫu thuật, vì lún răng sau thật sự là chuyển động khó đạt bằng cơ học thường quy [1]. Minivis cho phép lún răng sau và điều chỉnh vị trí đứng của răng, nhờ đó sửa được canting mà không cần LeFort I trong nhóm lệch xương nhẹ [1].
Canting nhỏ thường không được nhận ra: Padwa và cộng sự đặt ngưỡng nhận biết canting quanh 4 độ [1]. Trên lâm sàng, bệnh nhân thường nhận thấy nụ cười nghiêng khi mất song song giữa đường môi và mặt phẳng nhai [1]. Bệnh nhân trong ca này tự nhận thấy cười nghiêng, tức mức canting đã vượt ngưỡng thẩm mỹ.
Khi sửa canting cần lưu ý ảnh hưởng lên khớp cắn: Braun và Legan ghi nhận mỗi độ xoay mặt phẳng nhai tương ứng khoảng 0,5 mm thay đổi tương quan khớp cắn [2].
2. Hồ sơ khi tiếp nhận
Bệnh nhân: nữ, trưởng thành, đang mang mắc cài, đã điều trị khoảng 2 năm ở nơi khác.
Lý do đến khám: chuyển công tác đến TP.HCM, muốn điều trị tiếp; than phiền chính là cười nghiêng.
Khám:
- Canting mặt phẳng nhai ở bình diện trán, một bên răng sau hàm trên ở vị trí thấp hơn (trồi hơn) bên đối diện.
- Nụ cười nghiêng, mất song song giữa mặt phẳng nhai và đường môi khi cười.
| Chỉ số | Chẩn đoán |
| Xương | Lệch nhẹ |
| Mặt phẳng nhai | Canting bình diện trán do chênh lệch chiều đứng răng sau |
| Thẩm mỹ | Cười nghiêng, mất song song đường môi - mặt phẳng nhai |

Hình 1 – Hồ sơ khi tiếp nhận (11/11/2021).
3. Mục tiêu và kế hoạch điều trị
3.1. Mục tiêu
- Cân lại mặt phẳng nhai ở bình diện trán.
- Sửa nụ cười nghiêng, lập lại song song đường môi - mặt phẳng nhai.
- Không phẫu thuật.
3.2. Kế hoạch cơ sinh học
| Hệ cơ học | Vị trí | Nhiệm vụ |
| Minivis | Phần hàm 2, vùng răng sau hàm trên bên trồi | Neo chặn xương cho lực lún |
| Cung lún đoạn | Phần hàm 2 | Truyền lực lún nhẹ, liên tục lên nhóm răng sau bên trồi |
| TPA | Hàm trên | Kiểm soát torque, chống nghiêng thân răng ra má khi lún |
4. Diễn tiến điều trị
4.1. Giai đoạn sửa canting Minivis được đặt ở vùng răng sau hàm trên bên trồi làm neo chặn xương. Cung lún TMA 0,019×0,025 gắn hook hai đầu vào cung chính, đặt phía tiền đình của minivis, kích hoạt để tạo lực lún nhẹ và liên tục lên nhóm răng sau bên đó [1]. Lực lún truyền từ minivis, không mượn neo chặn từ nhóm răng khác, nên các răng còn lại không bị di chuyển ngược.
TPA hàm trên được đặt đồng thời. Khi lún răng sau từ phía tiền đình, thân răng có xu hướng nghiêng ra má; TPA kiểm soát torque bậc ba, giữ trục răng khi lún [1].
So với thun đứng, cung lún cho lực liên tục, ít tụt nhanh, kéo dài khoảng cách giữa các lần hẹn và không phụ thuộc sự hợp tác mang thun của bệnh nhân [1].

Hình 2 – Giai đoạn sửa canting: TPA hàm trên, minivis và cung lún phần hàm 2 (1/2022).
4.2. Kết thúc (Hình 3 – 17/06/2022)
- Mặt phẳng nhai cân lại ở bình diện trán.
- Nụ cười cân, song song đường môi - mặt phẳng nhai được lập lại.
- Khớp cắn ổn định.

Hình 3 – Kết quả kết thúc (17/06/2022).
5. Bàn luận
Canting do chênh lệch chiều đứng răng sau là chỉ định phù hợp để sửa bằng lún răng với neo chặn xương, tránh phẫu thuật [1][3]. Điểm quyết định là xác định đúng bên cần lún: chọn bên có răng sau trồi và lộ nướu nhiều hơn khi cười [1]. Lún nhóm răng bên đó nâng mặt phẳng nhai về song song với đường môi.
Cơ học ở ca này là bản rút gọn của hệ rhythmic wire. Kang và cộng sự mô tả hệ đầy đủ gồm cung lún ở bên trồi, cung trồi ở hàm đối diện, kèm TPA và cung lưỡi để kiểm soát torque [1]. Ca này chỉ cần lún một phần hàm trên nên dùng một minivis, cung lún đoạn và TPA; không cần cung trồi hàm dưới. Việc dùng cung chính thép chữ nhật và neo chặn xương giúp kiểm soát góc phần tư răng sau ổn định hơn khi lún [1].

Hình 4: Cung lún kết hợp với minivis [1]
Lún răng sau bằng minivis đã được ghi nhận là chuyển động an toàn và ổn định, với mức lún trung bình vài mm và ít tác dụng phụ nghiêm trọng, tuy vẫn cần theo dõi tiêu chân răng [3]. Khi sửa canting, cần cân nhắc thay đổi khớp cắn kèm theo do xoay mặt phẳng nhai, khoảng 0,5 mm mỗi độ [2].
6. Kết luận
Case này rút ra:
- Canting do chênh lệch chiều đứng răng sau có thể sửa không phẫu thuật bằng lún răng với neo chặn xương.
- Minivis + cung lún đoạn ở phần hàm trồi → lún nhóm răng sau bên đó, cân lại mặt phẳng nhai.
- TPA → kiểm soát torque, chống nghiêng thân răng ra má khi lún.
- Chọn bên lún theo mức lộ nướu và trồi răng khi cười; lún đủ để lập lại song song đường môi - mặt phẳng nhai.
Tài liệu tham khảo
- Kang YG, Nam JH, Park YG. Use of rhythmic wire system with miniscrews to correct occlusal-plane canting. Am J Orthod Dentofacial Orthop. 2010;137(4):540–547.
- Braun S, Legan HL. Changes in occlusion related to the cant of the occlusal plane. Am J Orthod Dentofacial Orthop. 1997;111(2):184–188.
- Park YC, Lee SY, Kim DH, Jee SH. Intrusion of posterior teeth using mini-screw implants. Am J Orthod Dentofacial Orthop. 2003;123(6):690–694.
- Jeon YJ, Kim YH, Son WS, Hans MG. Correction of a canted occlusal plane with miniscrews in a patient with facial asymmetry. Am J Orthod Dentofacial Orthop. 2006;130(2):244–252.
- Padwa BL, Kaiser MO, Kaban LB. Occlusal cant in the frontal plane as a reflection of facial asymmetry. J Oral Maxillofac Surg. 1997;55(8):811–816.
Thảo luận
Đăng nhập để tham gia bình luận bài viết này.
- Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!
