Chỉnh nha toàn diện

Điều trị canting mặt phẳng nhai gây cười nghiêng bằng lún một bên hàm trên với neo chặn minivis

Bệnh nhân nữ trưởng thành đến khám vì cười nghiêng và răng không ăn khớp. Khám thấy canting mặt phẳng nhai ở bình diện trán, bên phải hàm trên ở vị trí thấp và lộ nướu nhiều hơn khi cười; mức lệch xương không đủ chỉ định phẫu thuật. Kế hoạch: lún phần hàm I bằng minivis và cung lún, đặt TPA mặt trong để kiểm soát torque, dùng thun liên hàm trồi răng sau hàm dưới để lập lại khớp cắn. Kết quả: mặt phẳng nhai cân lại, nụ cười cân. Cơ học áp dụng theo Farret [1].

Ngọc Anh Đỗ
16 tháng 7, 202618 phút đọc57 lượt xem
Điều trị canting mặt phẳng nhai gây cười nghiêng bằng lún một bên hàm trên với neo chặn minivis

Báo cáo ca lâm sàng

Ths.Bs. Đỗ Ngọc Anh – Ths.Bs. Lê Hương – Bs CKI Lương Đoàn Minh Thư

1. Đặt vấn đề

Canting mặt phẳng nhai ở bình diện trán là nguyên nhân của nụ cười mất cân và là một điều trị khó do cơ học phức tạp [1]. Trước khi có neo chặn xương, canting thường phải xử lý bằng thun bất đối xứng, bend bất đối xứng trên dây, bite block, headgear kéo cao, hoặc phẫu thuật [1]. Neo chặn xương cho phép lún răng thật sự và sửa canting trong phần lớn trường hợp, ít phụ thuộc sự hợp tác của bệnh nhân và giảm nhu cầu phẫu thuật [1]. Minivis phù hợp với lệch nhẹ đến trung bình khi không cần cơ học theo chiều trước - sau kèm theo [1].

Khi có canting, bước chẩn đoán quan trọng là xác định bên cần lún và bên cần trồi để cân lại mặt phẳng nhai [1]. Cung răng trên là mốc tham chiếu, đánh giá qua mức lộ thân răng và lộ nướu mỗi bên; dùng đường liên đồng tử và ảnh cười để định hướng, không lấy bất đối xứng cấu trúc môi làm mốc [1].

2. Hồ sơ khi tiếp nhận Bệnh nhân: nữ, trưởng thành.

Lý do đến khám: cười nghiêng, răng không ăn khớp.

Khám:

  1. Canting mặt phẳng nhai ở bình diện trán; bên phải hàm trên thấp hơn, lộ nướu nhiều hơn bên trái khi cười.
  2. Mất song song giữa đường liên đồng tử và mặt phẳng nhai.
  3. Khớp cắn không ăn khớp ở bên canting.
Chỉ sốChẩn đoán
Thẩm mỹCười nghiêng, mất song song đường liên đồng tử - mặt phẳng nhai
Mặt phẳng nhaiCanting bình diện trán, bên phải thấp và lộ nướu nhiều hơn
Khớp cắnRăng không ăn khớp do canting
XươngLệch nhẹ

Hình 1 – Hồ sơ khi tiếp nhận (14/04/2021).

3. Mục tiêu và kế hoạch điều trị

3.1. Mục tiêu

  1. Cân lại mặt phẳng nhai ở bình diện trán.
  2. Sửa nụ cười nghiêng, lập lại song song đường liên đồng tử - mặt phẳng nhai.
  3. Lập lại khớp cắn ăn khớp.
  4. Không phẫu thuật.

3.2. Kế hoạch cơ sinh học

Hệ cơ họcVị tríNhiệm vụ
MinivisPhần hàm I (hàm trên phải)Neo chặn xương cho lực lún
Cung lúnPhần hàm ITruyền lực lún nhẹ, liên tục lên nhóm răng sau bên phải
TPA mặt trongHàm trênKiểm soát torque, chống nghiêng thân răng ra má khi lún
Thun liên hàmBên phảiTrồi răng sau hàm dưới, lập lại tiếp xúc khớp cắn sau khi ổn định đoạn lún

4. Diễn tiến điều trị

4.1. Giai đoạn lún phần hàm I và trồi răng đối diện (Hình 2 – 23/06/2022)

Sau khi làm đều, cơ học đầu tiên là kéo thun bên trái để cân bằng mặt phẳng nhai hàm trên. Tuy nhiên cơ học này không đủ hiêu quả với trường gợp canting.

Hình 2: Sau khi làm đều

Minivis được đặt ở phần hàm I làm neo chặn xương. Cung lún truyền lực lún nhẹ và liên tục lên nhóm răng sau hàm trên bên phải, không mượn neo chặn từ nhóm răng khác.

Lún răng sau từ phía tiền đình tạo mô-men làm thân răng nghiêng ra má, do điểm đặt lực cách xa tâm cản của nhóm răng [1]. Để kiểm soát, dùng cung chính thép chữ nhật 0,019×0,025 với torque chân răng ra ngoài ở bên lún, kèm TPA mặt trong; TPA còn chống bung rộng cung răng ở bên lún [1].

Không lún và trồi cùng lúc, vì không thể đặt cùng một mức lực cho hai chuyển động [1]. Sau khi đoạn răng lún được ổn định, dùng thun liên hàm nối từ hàm trên xuống răng sau hàm dưới bên phải để trồi nhóm răng dưới, lập lại tiếp xúc khớp cắn [1].

Hình 3 – Giai đoạn lún phần hàm I, TPA mặt trong và thun liên hàm

4.2. Kết quả (Hình 3 – 25/08/2022)

  1. Mặt phẳng nhai cân lại ở bình diện trán.
  2. Nụ cười cân, song song đường liên đồng tử - mặt phẳng nhai được lập lại.
  3. Khớp cắn ăn khớp.

Hình 4 – Nụ cười cân sau khi sửa canting

5. Bàn luận

Canting do chênh lệch chiều đứng răng là chỉ định phù hợp để sửa bằng lún răng với neo chặn xương, tránh phẫu thuật [1][2]. Điểm quyết định là chọn đúng bên: bên có răng sau thấp và lộ nướu nhiều hơn khi cười được chọn để lún [1]. Ở ca này, bên phải hàm trên được lún, sau đó răng sau hàm dưới bên phải được trồi bằng thun liên hàm để lập lại khớp cắn.

Tác dụng phụ thường gặp khi lún chỉ từ phía má là nghiêng thân răng ra má; kiểm soát bằng torque trên dây thép chữ nhật và TPA mặt trong [1]. Trình tự lún trước, ổn định, rồi mới trồi bằng thun là bắt buộc, vì lún và trồi đồng thời không thể cân lực [1]. Lún một bên hàm trên còn làm đường giữa răng cửa dịch về bên lún, cần theo dõi để tránh lệch đường giữa cuối điều trị [1].

Lún răng sau bằng minivis đã được ghi nhận là chuyển động an toàn với mức lún vài mm và ít tác dụng phụ nghiêm trọng, tuy cần theo dõi tiêu chân răng [3][4].

6. Kết luận

Case này rút ra:

  1. Canting do chênh lệch chiều đứng răng có thể sửa không phẫu thuật bằng lún răng với neo chặn xương.
  2. Minivis + cung lún ở phần hàm I → lún nhóm răng sau hàm trên bên phải, cân lại mặt phẳng nhai.
  3. TPA mặt trong + dây thép chữ nhật → kiểm soát torque, chống nghiêng thân răng ra má.
  4. Thun liên hàm → trồi răng sau hàm dưới, lập lại khớp cắn; lún trước, ổn định, rồi mới trồi.
  5. Chọn bên lún theo mức lộ nướu và vị trí răng khi cười; theo dõi đường giữa trong quá trình lún một bên.

Tài liệu tham khảo

  1. Farret MM. Occlusal plane canting: a treatment alternative using skeletal anchorage. Dental Press J Orthod. 2019;24(1):88–105.
  2. Jeon YJ, Kim YH, Son WS, Hans MG. Correction of a canted occlusal plane with miniscrews in a patient with facial asymmetry. Am J Orthod Dentofacial Orthop. 2006;130(2):244–252.
  3. Park YC, Lee SY, Kim DH, Jee SH. Intrusion of posterior teeth using mini-screw implants. Am J Orthod Dentofacial Orthop. 2003;123(6):690–694.
  4. Kang YG, Nam JH, Park YG. Use of rhythmic wire system with miniscrews to correct occlusal-plane canting. Am J Orthod Dentofacial Orthop. 2010;137(4):540–547.
  5. Padwa BL, Kaiser MO, Kaban LB. Occlusal cant in the frontal plane as a reflection of facial asymmetry. J Oral Maxillofac Surg. 1997;55(8):811–816.


Thảo luận

Đăng nhập để tham gia bình luận bài viết này.

  • Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!