Chỉnh nha toàn diện
14 bài viết
Khám chẩn đoán chỉnh nha (Phần 3)
Khám - Chẩn đoán chỉnh nha (Phần 1)

ĐỌC VỊ PHÂN TÍCH RICKETTS
Từ những con số trên phim sọ nghiêng đến một chẩn đoán có hệ thống

Ca hô xương, cắn chìa lớn, dạng mặt Mesio điều trị với nhổ răng cối nhỏ và kéo lui hàm trên bằng vis IZC
Bệnh nhân nam 12 tuổi, đến khám vì hô. Khám thấy cắn chìa lớn, chen chúc hàm dưới, hô xương, kiểu mặt trung bình. Đây là ca có chỉ định nhổ răng cối nhỏ rõ ràng, không có yếu tố chống chỉ định; VTO Steiner sticks cũng cho kết quả nhổ răng. Kế hoạch: nhổ 14, 24, 35, 45; di xa răng nanh trước, sau đó kéo lui răng cửa. Sau khi đóng hết khoảng vẫn còn tương quan hạng II nên đặt thêm 2 vis IZC hàm trên để kéo lui. Kết quả: tương quan hạng I, cắn chìa bình thường, nét mặt nhìn nghiêng cải thiện.

Ca giáp biên không nhổ răng cối nhỏ trên bệnh nhân mặt ngắn: nong hàm, dựng trục răng sau và kéo lui hai hàm bằng vis
Bệnh nhân nữ trưởng thành đến khám vì răng chen chúc và cười nghiêng. Kiểu mặt ngắn (brachy). Đây là ca giáp biên giữa nhổ và không nhổ răng cối nhỏ; chúng tôi quyết định không nhổ, có đối chiếu bằng VTO Steiner sticks cũng cho kết quả không nhổ. Kế hoạch: nong hàm, dựng trục răng sau để tạo chỗ; sau align đặt 2 vis IZC và 2 vis buccal shelf kéo lui hai hàm; thêm 1 vis liên chân răng giữa 33 và 34 để chỉnh canting. Kết quả: hết chen chúc, khớp cắn ăn khớp, mặt phẳng nhai cân, nụ cười cân, giữ nguyên số răng. Bài viết bàn về vai trò của kiểu mặt trong quyết định nhổ răng ở ca giáp biên.

Hậu quả của nhổ 8 răng cối nhỏ: điều trị lại bằng dây thẳng dựng trục răng cối lớn và MEAW
Bệnh nhân nữ trưởng thành, đã niềng 3 năm ở cơ sở khác chưa xong. Trong quá trình đó bệnh nhân được nhổ 4 răng cối nhỏ thứ nhất; sau đó bác sĩ trước đây vẫn đánh giá còn hô nên nhổ tiếp 4 răng cối nhỏ thứ hai, tổng cộng mất 8 răng cối nhỏ. Khi tiếp nhận: răng cối lớn nghiêng gần, khớp cắn không ăn khớp, cắn sâu, canting mặt phẳng nhai, mất torque răng cửa, cười mặt lép. Kế hoạch ban đầu của chúng tôi là tạo chỗ vùng răng cối nhỏ thứ nhất để cắm implant, nhưng bệnh nhân không đủ chi phí nên đề nghị chỉnh với số răng hiện có. Điều trị: align dựng trục răng 6, sau đó MEAW để tăng kích thước dọc, giải cắn sâu, đóng khe thưa và chỉnh torque răng cửa. Bài viết bàn về quyết định nhổ răng cối nhỏ và cảnh báo việc nhổ nhiều răng chỉ vì hô hoặc chen chúc.

SO SÁNH ĐIỀU TRỊ SAI KHỚP CẮN HẠNG II: NIỀNG KHAY TRONG SUỐT vs MẮC CÀI DÂY THẲNG – MEAW
Cùng một dạng sai khớp cắn – hai con đường điều trị hoàn toàn khác nhau. Đâu là lựa chọn giúp Bác sĩ tiết kiệm thời gian ghế răng mà vẫn đạt kết quả tối ưu?

Niềng khay trong suốt nhổ bốn răng cối nhỏ thứ nhất: thiết kế ClinCheck để làm đều, đóng khoảng và kiểm soát chiều đứng
Bệnh nhân nữ trưởng thành đến khám vì răng chen chúc. Kế hoạch nhổ 14, 24, 34, 44 và điều trị bằng khay trong suốt. Trọng tâm bài viết là thiết kế ClinCheck để kiểm soát các chuyển động mà khay trong suốt vốn khó đạt trong ca nhổ răng: đóng khoảng có kiểm soát, lún và bù torque răng cửa, song song chân răng vùng nhổ. Kết quả: hết chen chúc, đóng kín khoảng nhổ, khớp cắn và độ nghiêng răng cửa được kiểm soát.

Điều trị canting mặt phẳng nhai gây cười nghiêng bằng lún một bên hàm trên với neo chặn minivis
Bệnh nhân nữ trưởng thành đến khám vì cười nghiêng và răng không ăn khớp. Khám thấy canting mặt phẳng nhai ở bình diện trán, bên phải hàm trên ở vị trí thấp và lộ nướu nhiều hơn khi cười; mức lệch xương không đủ chỉ định phẫu thuật. Kế hoạch: lún phần hàm I bằng minivis và cung lún, đặt TPA mặt trong để kiểm soát torque, dùng thun liên hàm trồi răng sau hàm dưới để lập lại khớp cắn. Kết quả: mặt phẳng nhai cân lại, nụ cười cân. Cơ học áp dụng theo Farret [1].

Điều trị canting mặt phẳng nhai bằng cung lún một phần hàm với neo chặn minivis
Bệnh nhân nữ trưởng thành, đã niềng khoảng 2 năm ở cơ sở cũ, chuyển công tác đến TP.HCM và muốn điều trị tiếp vì cười bị nghiêng. Khám thấy canting mặt phẳng nhai ở bình diện trán, biểu hiện nụ cười nghiêng, mức lệch xương không đủ chỉ định phẫu thuật. Kế hoạch: đặt TPA hàm trên, một minivis ở phần hàm trồi, dùng cung lún đoạn để lún nhóm răng sau bên đó với neo chặn xương. Kết quả: mặt phẳng nhai cân lại, nụ cười cân. Cơ học áp dụng theo hệ rhythmic wire (Kang và cộng sự) [1].
Hạng II chi 2, mất răng sau hàm dưới: Kéo lui hàm trên bằng vis IZC phối hợp MEAW hàm dưới
Bệnh nhân nữ trưởng thành, hạng II chi 2 (Class II division 2), cắn sâu, mất răng 36 và 46 với răng cối lớn thứ hai nghiêng gần. Kế hoạch: giải cắn sâu, kéo lui khối răng hàm trên bằng 2 minivis IZC, đồng thời dựng trục và tạo chỗ ở hàm dưới bằng MEAW để chuẩn bị vị trí implant 36,46. Kết quả: hết cắn sâu, tương quan hạng I, khoảng 36/46 đủ và song song chân răng cho implant, torque răng cửa được kiểm soát. Bài viết phân tích logic chuyển từ tiểu loại 2 sang tiểu loại 1 như một bước chiến lược, và cơ chế phối hợp Vis - MEAW - Dây thẳng.