Tất cả bài viết
29 bài viết

Bionics và nguyên lý “Hình thái tuân theo chức năng” trong giải phẫu răng ứng dụng

ĐỌC VỊ PHÂN TÍCH RICKETTS
Từ những con số trên phim sọ nghiêng đến một chẩn đoán có hệ thống

Ca hô xương, cắn chìa lớn, dạng mặt Mesio điều trị với nhổ răng cối nhỏ và kéo lui hàm trên bằng vis IZC
Bệnh nhân nam 12 tuổi, đến khám vì hô. Khám thấy cắn chìa lớn, chen chúc hàm dưới, hô xương, kiểu mặt trung bình. Đây là ca có chỉ định nhổ răng cối nhỏ rõ ràng, không có yếu tố chống chỉ định; VTO Steiner sticks cũng cho kết quả nhổ răng. Kế hoạch: nhổ 14, 24, 35, 45; di xa răng nanh trước, sau đó kéo lui răng cửa. Sau khi đóng hết khoảng vẫn còn tương quan hạng II nên đặt thêm 2 vis IZC hàm trên để kéo lui. Kết quả: tương quan hạng I, cắn chìa bình thường, nét mặt nhìn nghiêng cải thiện.

Ca giáp biên không nhổ răng cối nhỏ trên bệnh nhân mặt ngắn: nong hàm, dựng trục răng sau và kéo lui hai hàm bằng vis
Bệnh nhân nữ trưởng thành đến khám vì răng chen chúc và cười nghiêng. Kiểu mặt ngắn (brachy). Đây là ca giáp biên giữa nhổ và không nhổ răng cối nhỏ; chúng tôi quyết định không nhổ, có đối chiếu bằng VTO Steiner sticks cũng cho kết quả không nhổ. Kế hoạch: nong hàm, dựng trục răng sau để tạo chỗ; sau align đặt 2 vis IZC và 2 vis buccal shelf kéo lui hai hàm; thêm 1 vis liên chân răng giữa 33 và 34 để chỉnh canting. Kết quả: hết chen chúc, khớp cắn ăn khớp, mặt phẳng nhai cân, nụ cười cân, giữ nguyên số răng. Bài viết bàn về vai trò của kiểu mặt trong quyết định nhổ răng ở ca giáp biên.

Hậu quả của nhổ 8 răng cối nhỏ: điều trị lại bằng dây thẳng dựng trục răng cối lớn và MEAW
Bệnh nhân nữ trưởng thành, đã niềng 3 năm ở cơ sở khác chưa xong. Trong quá trình đó bệnh nhân được nhổ 4 răng cối nhỏ thứ nhất; sau đó bác sĩ trước đây vẫn đánh giá còn hô nên nhổ tiếp 4 răng cối nhỏ thứ hai, tổng cộng mất 8 răng cối nhỏ. Khi tiếp nhận: răng cối lớn nghiêng gần, khớp cắn không ăn khớp, cắn sâu, canting mặt phẳng nhai, mất torque răng cửa, cười mặt lép. Kế hoạch ban đầu của chúng tôi là tạo chỗ vùng răng cối nhỏ thứ nhất để cắm implant, nhưng bệnh nhân không đủ chi phí nên đề nghị chỉnh với số răng hiện có. Điều trị: align dựng trục răng 6, sau đó MEAW để tăng kích thước dọc, giải cắn sâu, đóng khe thưa và chỉnh torque răng cửa. Bài viết bàn về quyết định nhổ răng cối nhỏ và cảnh báo việc nhổ nhiều răng chỉ vì hô hoặc chen chúc.

SO SÁNH ĐIỀU TRỊ SAI KHỚP CẮN HẠNG II: NIỀNG KHAY TRONG SUỐT vs MẮC CÀI DÂY THẲNG – MEAW
Cùng một dạng sai khớp cắn – hai con đường điều trị hoàn toàn khác nhau. Đâu là lựa chọn giúp Bác sĩ tiết kiệm thời gian ghế răng mà vẫn đạt kết quả tối ưu?

Niềng khay trong suốt nhổ bốn răng cối nhỏ thứ nhất: thiết kế ClinCheck để làm đều, đóng khoảng và kiểm soát chiều đứng
Bệnh nhân nữ trưởng thành đến khám vì răng chen chúc. Kế hoạch nhổ 14, 24, 34, 44 và điều trị bằng khay trong suốt. Trọng tâm bài viết là thiết kế ClinCheck để kiểm soát các chuyển động mà khay trong suốt vốn khó đạt trong ca nhổ răng: đóng khoảng có kiểm soát, lún và bù torque răng cửa, song song chân răng vùng nhổ. Kết quả: hết chen chúc, đóng kín khoảng nhổ, khớp cắn và độ nghiêng răng cửa được kiểm soát.

Điều trị canting mặt phẳng nhai gây cười nghiêng bằng lún một bên hàm trên với neo chặn minivis
Bệnh nhân nữ trưởng thành đến khám vì cười nghiêng và răng không ăn khớp. Khám thấy canting mặt phẳng nhai ở bình diện trán, bên phải hàm trên ở vị trí thấp và lộ nướu nhiều hơn khi cười; mức lệch xương không đủ chỉ định phẫu thuật. Kế hoạch: lún phần hàm I bằng minivis và cung lún, đặt TPA mặt trong để kiểm soát torque, dùng thun liên hàm trồi răng sau hàm dưới để lập lại khớp cắn. Kết quả: mặt phẳng nhai cân lại, nụ cười cân. Cơ học áp dụng theo Farret [1].

Điều trị canting mặt phẳng nhai bằng cung lún một phần hàm với neo chặn minivis
Bệnh nhân nữ trưởng thành, đã niềng khoảng 2 năm ở cơ sở cũ, chuyển công tác đến TP.HCM và muốn điều trị tiếp vì cười bị nghiêng. Khám thấy canting mặt phẳng nhai ở bình diện trán, biểu hiện nụ cười nghiêng, mức lệch xương không đủ chỉ định phẫu thuật. Kế hoạch: đặt TPA hàm trên, một minivis ở phần hàm trồi, dùng cung lún đoạn để lún nhóm răng sau bên đó với neo chặn xương. Kết quả: mặt phẳng nhai cân lại, nụ cười cân. Cơ học áp dụng theo hệ rhythmic wire (Kang và cộng sự) [1].

Mất sớm răng sữa và bộ giữ khoảng: bằng chứng về mất khoảng, chỉ định và giới hạn của khí cụ
Răng sữa là bộ giữ khoảng tự nhiên tốt nhất. Khi bộ giữ khoảng tự nhiên này mất sớm, mất chiều dài cung răng có thể xảy ra nhanh và không hồi phục. Bài tổng quan này tổng hợp bằng chứng định lượng về mức độ mất khoảng theo từng răng, hệ thống hóa các loại bộ giữ khoảng và phân tích một cách phê phán chất lượng bằng chứng hiện có.

Thở miệng và rối loạn hô hấp khi ngủ ở trẻ em: ảnh hưởng lên tăng trưởng sọ mặt và vai trò của phát hiện sớm trong chỉnh nha phòng ngừa
Thở miệng mạn tính làm thay đổi tư thế đầu, hàm và lưỡi, phá vỡ trạng thái cân bằng lực tác động lên cung răng và xương hàm. Bài tổng quan này phân tích bằng chứng về mối liên hệ giữa thở miệng, rối loạn hô hấp khi ngủ và kiểu hình sọ mặt 'mặt dài', đồng thời đề xuất quy trình sàng lọc bốn bước tại ghế nha khoa.

Mút ngón tay kéo dài ở trẻ em: hậu quả trên răng - xương và hiệu quả của các biện pháp can thiệp bỏ thói quen
Mút ngón tay là thói quen xấu răng miệng thường gặp nhất ở trẻ. Bài tổng quan này hệ thống hóa cơ chế gây sai khớp cắn của thói quen mút ngón tay, các dấu hiệu nhận diện lâm sàng, và so sánh hiệu quả của ba nhóm can thiệp: tư vấn tâm lý - hành vi, nhắc nhở cơ học, và khí cụ chỉnh nha.